Anh Đỗ văn Minh thân mến,

Hằng năm, cứ vào khuya 29 rạng ngày 30 Tháng Tư, tôi đều thắp ba nén nhang ra góc sân vườn nhà khẩn cầu cho những oan hồn uổng tử trên hai miền Đất Nước trong cuộc chiến vừa qua sớm siêu thoát, nhất là những chiến sĩ đã hy sinh nơi chiến địa: Một bên quyết ngăn chặn làn sóng đỏ, một bên bị đẩy làm nghĩa vụ quốc tế. Khuya 29 rạng 30 năm nay, tôi cũng sẽ tiếp tục làm như thế, cho tới bao giờ Đất Nước mình hết bị qủy quỷ ám thì mới thôi!

Đúng thế anh Minh ạ! Ông Hồ Chí Minh đưa ra cái khẩu hiệu: “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” quá hấp dẫn, đã làm cho toàn dân bất kể nam phụ lão ấu đều dốc lòng hy sinh tính mạng và tài sản để sớm thoát khỏi cảnh đời nô lệ. Nếu vào Mùa Thu năm 1945, tôi đủ lớn thì chắc chắn tôi cũng đã xếp bút nghiên lên đường làm cuộc cách mạng dân tộc. Có thể đã bỏ mạng trên sa trường hoặc sống sót tới ngày nay thì đành ôm mối hận thiên thu như các ông Nguyễn văn Trấn, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Phạm Quế Dương, Đặng văn Việt, Vũ Cao Quận  … và vô số người nữa mà thôi.

Nhưng qua năm 1953, dù đang là đứa trẻ mới 13 tuổi chưa có một chút kiến thức chính trị mà đã nhìn ra sự tàn bạo dã man của cộng sản, khi hai ông bác và một ông chú tôi bị đấu tố cho đến chết một cách nhục nhã trong cái gọi là Cải cách Ruộng đất. Hai bác tôi nổi tiếng là vị quan thanh liêm, nên được Hồ Chí Minh mời tham gia Việt Minh. Một người – Thượng thư Đặng văn Hướng – làm Bộ trưởng trong chính phủ Liên Hiệp; một người – Tham tri Đặng văn Oánh – làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt ở Liên Khu Tư, đều bị đem ra đấu trường để cho bọn thất phu lăng mạ. Từ đó, tôi có mối thù đối với cộng sản đến tận xương tủy. Trong khi ấy cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm – thân sinh của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện và bà chị dâu cả của tôi – cũng bị đấu tố cho đến chết nhục nhã, thế mà ông bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, một trí thức được đánh giá vô cùng uyên bác lại cúi đầu phụng sự Hồ Chí Minh cho đến gần cuối đời mới nhận ra rằng mình … ngây thơ! Phải chi cụ Nguyễn Khắc Niêm làm mật thám cho Pháp, giết hại nhiều nhà cách mạng VN mà bị đấu tố cho cam. Trái lại, cụ Nguyễn là vị quan Tế Tửu rất mực thanh liêm và đạo đức. Tôi không thể lý giải nổi hiện tượng một người con thông minh tột độ như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện biết cha mình bị giết một cách dã man, tàn bạo, nhưng vẫn cứ đi theo cái chủ nghĩa xã hội quái đản. Chỉ có hai chữ thích ứng để giải thích hiện tượng này: QỦY QUỶ ÁM!

Trong bài về Trịnh Công Sơn vừa rồi, tôi viết rằng khi chuyên chở những người tù binh cộng sản từ chiến trường, tôi thường biếu họ điếu thuốc lá, cái kẹo vì tôi thương và kính trọng họ. Thương vì họ bị nhồi vào óc lý tưởng chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc mà không hay biết bị lợi dụng; kính trọng vì dám đương đầu trực diện với chúng ta trên chiến trường. Còn tôi đặc biệt khinh bỉ bọn phản chiến, ngụy hòa sống ung dung trong thành phố được chế độ bảo vệ lại đòi chấm dứt chiến tranh vô điều kiện. Đấu tranh cho hòa bình là một hành động nhân đạo chính đáng, vì chiến tranh nào cũng tàn bạo gây ra chết chóc, đổ nát. Nhưng nhân danh hai chữ “Hòa Bình” mà chỉ lên án phía tự vệ và tảng lờ phía gây hấn thì không phải là vì ngây thơ, mà là vì ý đồ bất lương đáng phỉ nhổ. Cộng sản xem tôn giáo là thuốc phiện, hà cớ gì linh mục, thượng tọa lại nghĩ rằng có thể chung sống hòa bình với cộng sản? Kẻ yêu chuộng hòa bình thực sự chính là những người lính tác chiến chúng ta đây này. Bởi vì chiến tranh càng kéo dài thì nguy cơ mất mạng càng cao. “Đi đêm lâu ngày gặp ma”, huống chi xông pha nơi lửa đạn ngày này qua ngày khác thì dịp may sống sót đâu còn đến mãi? Ngoại trừ bọn tuớng lãnh ngồi mát ăn bát vàng, bọn mở quán bia ôm cho lính Mỹ, đấu thầu rác, giặt ủi cho Mỹ mới mong chiến tranh kéo dài để kiếm sống trên xương máu kẻ khác!

Ông Đạo Dừa ở Cồn Phụng thành công trong việc nuôi hai giống vật Mèo và Chuột sống hòa thuận với nhau để chứng minh rằng cộng sản và quốc gia cũng có thể sống hòa hợp với nhau trong một xã hội, một đất nước. Khốn nỗi cộng sản không phải là thú vật để có thể dạy bảo được, mà chúng là QỦY QUỶ đội lốt NGƯỜI! Xin anh đừng bảo tôi quá khích. Chứng cớ rành rành ra đó: Cộng sản Đệ tam diệt Cộng sản Đệ tứ như ngóe, chứ đợi gì người quốc gia mà hòng chúng tha mạng!

Jean-Paul Satre, Bertrand Russell là hai nhà đại trí thức Pháp, Anh thiên Cộng vì sống trong tháp ngà chưa từng va chạm thực tế. Còn Miền Nam Việt Nam không chấp nhận sống dưới chế độ độc tài toàn trị của cộng sản vì bộ mặt thật man rợ của cộng sản đã lộ diện qua cuộc Cải cách Ruộng đất với khẩu hiệu “đào tận gốc, trốc tận rễ” bốn thành phần cốt cán “trí, phú, địa, hào”. Đó là lý do vì sao hàng triệu người Bắc bỏ mồ mả cha ông, tài sản một đời tạo dựng để vào sống lất lây ở Miền Nam. Sau khi nhận ra sai lầm về biến cố long trời lở đất, Hồ Chí Minh đã sửa sai giả tạo bằng cách truất chức Tổng Bí thư Trường Chinh Đặng Xuân Khu và Hồ viết Thắng, người phụ trách chiến dịch. Tôi nói sửa sai giả tạo, bởi vì ngay sau đó Hồ Chí Minh tiếp tục đàn áp tiếng nói hàng ngũ trí thức văn nghệ sĩ trong phong trào Nhân văn Giai Phẩm. Không gì tàn ác bằng dùng thủ đoạn hộ khẩu trấn áp bao tử con người.

Năm 1959, nhờ cụ Hoàng văn Chí, Trưởng Ban Biên Tập của Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá xuất bản cuốn Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc mà người Miền Nam lại biết thêm những văn nghệ sĩ yêu nước chống Pháp đi theo Việt Minh bị Đảng Cộng sản của ông Hồ hành hạ, đầy ải. Những nhân vật tiếng tăm dưới thời Pháp đô hộ như cụ Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn hữu Đang, Văn Cao … đều bị Đảng trừng trị bằng nhiều cách khác nhau. Đồng thời, nhờ cuốn sách mà chúng ta lại được biết sự hèn hạ của nhà thơ nhà văn như Xuân Diệu, Tố Hữu, Nguyễn Công Hoan … bợ đỡ lãnh tụ Hồ Chí Minh ra sao. Vậy thì không lý do gì để bảo rằng những trí thức khuynh tả ở Miền Nam không biết chính sách tàn bạo dã man của Hà Nội. Hay bọn trí thức tả khuynh phù cộng sản không tin những tài liệu do cụ Hoàng văn Chí đưa ra? Nào là Trại Đầm Đùn, Khu Rừng Lau không đủ mở mắt họ hay sao?

Vụ quần chúng nổi dậy ở Quỳnh Lưu, Nghệ An (cái nôi của cộng sản) bị đàn áp dã man, vụ những người kháng chiến Miền Nam tập kết ra Bắc tức giận phá đồn Công An vì bi bị nghi là đảng viên Quốc Dân Đảng càng xác quyết niềm tin của tôi rằng mình không thể đội trời chung với cộng sản. Bởi thế tôi đã tham gia vào một đảng cách mạng có quá trình chống Cộng không khoan nhượng: Đảng Đại Việt.